Một nhóm nhỏ những công ty khổng lồ như Google, Apple và
Amazon đang thắt chặt sự kiểm soát của họ đối với thị trường toàn cầu, sáp nhập
với nhau để tạo ra những đế chế thậm chí lớn hơn rất nhiều và cùng nhau hưởng
phần lợi nhuận khổng lồ.
Ngày
31/8/1910, tổng thống Theodore Roosevelt đã có bài phát biểu tại Osawatomie,
Kansas. Vị cố tổng thống đã biểu dương những thành tựu đáng kinh ngạc của nước
Mỹ về sức mạnh thương mại nhưng đồng thời cũng đưa ra lời cảnh bảo rằng nền
kinh tế công nghiệp của Mỹ đang chịu sự kiểm soát của một nhóm các tập đoàn
khổng lồ và điều này tạo ra khối tài sản vô song cho một nhóm nhỏ người và thậm
chí có khả năng kiểm soát cả nền chính trị của Mỹ.
Lời
cảnh báo mà thủ tướng Roosevelt đưa ra đó là một đất nước vốn được thành lập
dựa trên những quy tắc công bằng về cơ hội đang trải qua mối nguy hiểm của việc
trở thành mảnh đất màu mỡ cho các tập đoàn khổng lồ và ông cam kết sẽ làm bất
kể điều gì có thể để kiểm soát được những "gã khổng lồ" này.
Bài
phát biểu của thủ tướng Roosevelt nghe có vẻ vẫn còn nguyên giá trị ở thời điểm
hiện tại. Một nhóm nhỏ những công ty khổng lồ một lần nữa đang tiếp tục thắt
chặt sự kiểm soát của họ đối với thị trường toàn cầu, sáp nhập với nhau để tạo
ra những đế chế thậm chí lớn hơn rất nhiều và cùng nhau hưởng phần lợi nhuận
khổng lồ.
Xét
về tỉ lệ % trong GDP, các tập đoàn Mỹ hiện đang đạt mức lợi nhuận cao hơn bao
giờ hết tính từ năm 1929. Apple, Google, Amazon và một số công ty khác đang
thống trị nền kinh tế toàn cầu hiện nay gần như đúng như những gì nước Mỹ phải
trải qua dưới sự thống trị của những công ty thép, dầu mỏ... dưới thời lãnh đạo
của thổng thống Roosevelt.
Một
vài trong số những tập đoàn khổng lồ hiện nay vốn có truyền thống lâu đời và tự
cải tiến mình qua thời gian. Một số khác là những cái tên mới đến từ những quốc
gia đang phát triển. Tuy nhiên, tất cả trong số họ đều học được cách kết hợp
lợi thế của kích thước khổng lồ với chủ nghĩa kinh doanh. Họ vượt lên trên đối
thủ trong một lĩnh vực sau đó là những lĩnh vực khác và tạo dựng nên sức mạnh
chống lại đối thủ cạnh tranh, nắm giữ khối tiền mặt khổng lồ tương đương với
10% GDP của Mỹ và thậm chí 47% GDP của Nhật Bản.
Trong
giai đoạn từ năm 1980 đến 1990, những nhà nghiên cứu đã chỉ ra hiện tượng suy
giảm những đế chế lớn khi các công ty này vô hình đã mở đường cho nền kinh tế
tự do, những ông lớn như AT&T bị chia nhỏ và những công ty nhà nước được tư
nhân hoá, những công ty công nghệ thì mọc lên ở khắp mọi nơi.
Peter
Drucker – một chuyên gia về quản lý tuyên bố rằng “danh sách Fortune 500 (danh
sách những công ty lớn nhất nước Mỹ) hết thời rồi”. Điều này phù hợp với tư
tưởng của Ronald Coase – một chuyên gia đã tranh luận trong cuốn “The Nature of
the Firm” rằng các công ty chỉ tồn tại được khi họ có thể cung cấp dịch vụ rẻ
hơn so với thị trường.
Tuy
nhiên, "kích thước" lại trở thành vấn đề nan giải trong hiện tại.
Viện kinh tế toàn cầu McKinsey tính toán rằng 10% các công ty đại chúng của thế
giới tạo ra 80% lợi nhuận. Các công ty với doanh thu hàng năm hơn 1 tỉ USD
chiếm gần 60% tổng doanh thu toàn cầu và 65% vốn hóa thị trường.
Kích
thước khổng lồ này đang sản sinh ra một thị trường toàn cầu sôi sục cho các
thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A). Trong năm 1990, có 11.500 thương vụ
M&A với tổng giá trị chiếm tới 2% GDP toàn cầu. Nhiều năm sau kể từ 2008,
con số này tăng lên 30.000 thương vụ mỗi năm, chiếm 3% tổng doanh thu toàn cầu.
Mới
đây nhất là thương vụ AB InBev – một trong những hãng bia lớn nhất thế giới mua
lại SABMiller với giá trị lên tới 107 tỉ USD.
Ảnh
hưởng của những tập đoàn "quái vật" này có thể nhận thấy rõ tại Mỹ -
nền kinh tế tiên tiến số 1 thế giới. Tỷ lệ % doanh thu của những công ty có mặt
trong danh sách Fortune 500 trong GDP của Mỹ tăng từ khoảng 33% trong năm 1994
lên 46% trong năm 2013 và bản thân doanh thu của những công ty trong danh sách
Fortune 100 cũng tăng từ 57% lên 63% trong cùng giai đoạn.
Số
lượng những công ty niêm yết tại Mỹ giảm gần 1 nửa trong giai đoạn từ 1997 đến
2013 từ 6.797 xuống còn 3.485 theo tính toán của giảng viên Gustavo Grullon đến
từ Đại học Rice cùng 2 đồng nghiệp của anh phản ảnh xu hướng tăng về sự hợp nhất
và kích thước. Doanh thu trung bình của những công ty niêm yết trên thị trường
cũng tăng gần gấp 3 lần – đạt mức cao nhất trong vòng 20 năm. Biên lợi nhuận
cũng tăng.
Các
công ty khởi nghiệp lại chứng kiến tình trạng khó khăn hơn. Robert Litan – một
chuyên gia tới từ Council of Foreign Relations và Ian Hathway tới từ viện
Brookings nói rằng số lượng các công ty khởi nghiệp thấp hơn so với bất kỳ thời
điểm nào kể từ năm 1970 và số lượng các công ty phá sản cũng nhiều hơn so với
lượng các công ty mới được sản sinh ra.
Cạnh tranh chỉ còn dành cho
những kẻ bại trận
Sức
ảnh hưởng của những "gã khổng lồ" đặc biệt thấy rõ trong nền kinh tế
tri thức. Tại thung lũng Silicon, một nhóm các tập đoàn đang chiếm thị phần và
biên lợi nhuận mà chưa một "ông trùm cướp bóc" khét tiếng nào trong
thế kỷ 19 có được.
“Cạnh
tranh chỉ còn dành cho những kẻ thua cuộc”, theo Peter Thiel – đồng sáng lập
PayPal và là một trong những nhà đầu tư đầu tiên của Facebook nhận định. Tại
phố Wall, 5 ngân hàng lớn nhất tăng thị phần tài sản của họ từ 25% trong năm
2000 lên 45% trong thời điểm hiện tại.
Bức
tranh tại những quốc gia giàu có khác cũng rất đa dạng. Trong khi tại Anh và
Hàn Quốc, quy mô của những tập đoàn lớn gần giống với Mỹ thì tại châu Âu con số
này dường như ít hơn. Trong danh sách 100 công ty có vốn hóa thị trường lớn
nhất thế giới được thống kê bởi PwC thì số lượng các công ty đến từ châu Âu gảm
từ 19 năm 2009 xuống còn 17 thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, khu vực này vẫn có
một số công ty nằm trong nhóm những tập đoàn lớn đang định hình thế giới.
Nguy
cơ rủi ro là vậy nhưng cũng có một vài mặt tích cực khi nói đến ảnh hưởng của
những "gã khổng lồ". Những công ty lớn và quyền lực thúc đẩy đối thủ
của họ buộc phải lớn hơn để cạnh tranh. Họ cũng thúc đẩy một số lượng lớn luật
sư, hãng tư vấn và những công ty dịch vụ chuyên nghiệp khác trở thành nhà cung
cấp toàn cầu nhằm đáp ứng những nhu cầu của họ. Kỷ nguyên kỹ thuật số đang làm
mạnh thêm xu hướng này bởi các công ty kỹ thuật số có thể mở rộng mạng lưới ảnh
hưởng và hoạt động xuyên biên giới.
James Manyika đến từ viện McKinsey Global chỉ ra rằng những công
ty "quái vật" hiện tại khác nhiều so với “tiền bối” của họ. Nếu như
trước đây những công ty có doanh thu lớn và định vị toàn cầu luôn có nhiều tài
sản và nhân viên (bản thân một số công ty ngôi sao "già cỗi" hiện nay
như Walmart và Exxon cũng vẫn theo xu hướng này). Tuy nhiên, những công ty kỹ
thuật số với giá trị thị trường khổng lồ và thị phần lớn hiện nay gần như có
rất ít tài sản.
Trong năm 1990, 3 nhà sản xuất xe ô tô hàng đầu tại Detroit có
tổng doanh thu 250 tỉ USD – vốn hóa thị trường 36 tỉ USD và 1,2 triệu nhân
viên. Thì 3 công ty lớn nhất tại thung lũng Silicon vào năm 2014 có doanh thu
đạt 247 tỉ USD, vốn hóa thị trường trên 1 nghìn tỉ USD nhưng chỉ có 137.000
nhân viên.
Thực tế là những công ty lớn “già cỗi” cũng đang sử dụng ít nhân
viên hơn so với trước đây. Exxon – công ty dầu mỏ thành công nhất thế giới đã
cắt giảm một nửa lượng nhân công của họ từ mức 150.000 nhân viên năm 1960 dù đã
sáp nhập với một đối thủ lớn là Mobil.
Cùng thời điểm, những công ty lớn “mới nổi” cũng có một vài điểm
giống với các "tiền bối" của họ. Những công ty công nghệ cao thường
dành những công việc chủ chốt cho người trong nội bộ ở Washington và thành lập
cả mội đội ngũ vận động hành lang hùng hậu.
Rất nhiều công ty lớn cất giấu một lượng lớn tiền của họ ở những
thiên đường thuế nhằm giảm hóa đơn thuế xuống mức tối thiểu. Những công ty này
có xu hướng vượt trội hơn ở mọi thứ mà họ đang làm – bao gồm cả việc vắt kiệt
lợi thế từ chính phủ trong khi vẫn cố gắng để phải trả mức thuế thấp nhất có
thể.
Theo Trí Thức
Trẻ/The Economist


EmoticonEmoticon